Điểm nổi bật của Nghị định 356 về bảo vệ dữ liệu cá nhân

Nghị định 356 về bảo vệ dữ liệu cá nhân: sự đồng ý hợp lệ, lập hồ sơ DPIA theo Mẫu số 10 - Luật DPO calendar03 Tháng 11 2026
   Không có bình luận  Tham vấn bởi:  Chuyên mục: Bảo vệ dữ liệu cá nhân

Nghị định 356 về bảo vệ dữ liệu cá nhân (Nghị định 356/2025/NĐ-CP) là văn bản pháp lý then chốt, quy định chi tiết các biện pháp thi hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025. Khám phá ngay những điểm nổi bật và giải pháp tuân thủ toàn diện được cung cấp bởi đội ngũ Luật sư chuyên trách tại Công ty Luật TNHH DPO để bảo vệ doanh nghiệp trước các rủi ro pháp lý và mức phạt khổng lồ.

TƯ VẤN PHÁP LÝ CHUYÊN SÂU – LUẬT DPO

Tư vấn bảo vệ dữ liệu cá nhân DPO

Dịch vụ Uy tín & Tuân thủ

Giải Pháp Bảo Vệ Dữ Liệu Cá Nhân & Tuân Thủ Pháp Lý Toàn Diện

Luật DPO cung cấp giải pháp rà soát tuân thủ Nghị định 356/2025/NĐ-CP, xây dựng hồ sơ DPIA chuẩn Mẫu số 10 và đảm bảo an toàn pháp lý tối đa cho hoạt động kinh doanh của khách hàng.


Hotline Luật sư: 0976926655

XEM CHI TIẾT DỊCH VỤ

Định nghĩa dữ liệu cá nhân cơ bản và dữ liệu cá nhân nhạy cảm theo pháp luật hiện hành

Tóm tắt chuyên môn: Nghị định 356 về bảo vệ dữ liệu cá nhân phân định rõ dữ liệu thành hai nhóm: cơ bản và nhạy cảm. Việc phân loại này quyết định trực tiếp đến mức độ áp dụng các biện pháp bảo mật kỹ thuật, quy trình quản lý và trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp trước cơ quan nhà nước.

Trong những năm gần đây, với sự bùng nổ nhanh chóng của công nghệ, việc thu thập và sử dụng dữ liệu của cá nhân ngày càng tăng cao kéo theo nhiều nguy cơ và mối lo ngại liên quan đến vấn đề bảo đảm quyền riêng tư cá nhân. Với kinh nghiệm tư vấn và triển khai thực tiễn trong lĩnh vực bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật DPO cung cấp các giải pháp tư vấn chuyên sâu, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng hệ thống quản trị dữ liệu phù hợp với quy định pháp luật, đáp ứng yêu cầu tuân thủ và nâng cao năng lực quản trị rủi ro.

Theo Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 và Nghị định 356/2025/NĐ-CP, dữ liệu cá nhân cơ bản là dữ liệu phản ánh các yếu tố nhân thân, lai lịch phổ biến, thường xuyên sử dụng trong các giao dịch, quan hệ xã hội. Trong khi đó, dữ liệu cá nhân nhạy cảm gắn liền với quyền riêng tư cốt lõi, khi bị xâm phạm sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Việc phân định rõ ràng này là cơ sở để tổ chức, doanh nghiệp áp dụng các biện pháp bảo vệ phù hợp đối với từng loại dữ liệu trong quá trình thu thập, lưu trữ và xử lý. Dữ liệu cá nhân cơ bản thường bao gồm họ và tên, ngày tháng năm sinh, số điện thoại, địa chỉ liên hệ, hình ảnh và các thông tin nhận dạng thông thường khác. Đối với dữ liệu cá nhân nhạy cảm, pháp luật yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo vệ tương ứng với mức độ rủi ro của hoạt động xử lý. Nhóm dữ liệu này bao gồm dữ liệu sinh trắc học, dữ liệu sức khỏe, dữ liệu tài chính, dữ liệu vị trí và các loại dữ liệu khác được pháp luật xác định là dữ liệu cá nhân nhạy cảm.

định nghĩa phân loại thông tin nhạy cảm theo điểm nổi bật của nghị định 356 về bảo vệ dữ liệu cá nhân

Quy định về sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân

Tóm tắt chuyên môn: Sự đồng ý của chủ thể dữ liệu phải được thể hiện rõ ràng, tự nguyện và có thể kiểm chứng được. Doanh nghiệp vi phạm quy định về xin sự đồng ý có thể đối mặt với mức phạt từ 30.000.000 VNĐ đến 70.000.000 VNĐ theo Điều 43 Nghị định 330/2026/NĐ-CP.

Nguyên tắc tự nguyện là nền tảng trong mọi hoạt động xử lý dữ liệu cá nhân. Doanh nghiệp không được sử dụng các cơ chế mặc định thể hiện sự đồng ý hoặc buộc chủ thể dữ liệu phải đồng ý để được sử dụng dịch vụ khi pháp luật không cho phép. Chủ thể dữ liệu phải chủ động thực hiện hành vi thể hiện sự đồng ý theo quy định.

Để bảo đảm tuân thủ pháp luật, quy trình xin sự đồng ý cần đáp ứng các yêu cầu khắt khe sau:

  • Thông báo rõ ràng về loại dữ liệu được thu thập và mục đích xử lý.
  • Không ép buộc chủ thể dữ liệu đồng ý với các mục đích không cần thiết để được sử dụng dịch vụ.
  • Thiết lập cơ chế thuận tiện, minh bạch để chủ thể dữ liệu có thể rút lại sự đồng ý khi cần thiết.
  • Lưu trữ bằng chứng về thời điểm, nội dung và hình thức chủ thể dữ liệu đã đồng ý nhằm phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra.

DỊCH VỤ PHÁP LÝ LIÊN QUAN

Tư vấn doanh nghiệp Luật DPO

TƯ VẤN DOANH NGHIỆP & QUẢN TRỊ RỦI RO

Đồng hành cùng doanh nghiệp trong việc thiết lập quy trình nội bộ, rà soát hợp đồng thương mại và đảm bảo tuân thủ pháp luật toàn diện, ngăn chặn rủi ro từ gốc rễ.

Hotline: 0976926655
YÊU CẦU TƯ VẤN

Trách nhiệm lập hồ sơ đánh giá tác động xử lý dữ liệu cá nhân

Tóm tắt chuyên môn: Lập hồ sơ đánh giá tác động (DPIA) là nghĩa vụ bắt buộc. Hồ sơ phải được lập theo Mẫu số 10 và nộp về Cục A05 (Bộ Công an) trong vòng 60 ngày kể từ ngày bắt đầu xử lý dữ liệu. Việc trốn tránh nghĩa vụ này sẽ bị xử phạt nghiêm khắc.

Theo Khoản 1 Điều 21 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025, bên kiểm soát dữ liệu cá nhân, bên kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân phải lập, lưu trữ hồ sơ đánh giá tác động xử lý dữ liệu cá nhân và gửi 01 bản chính cho cơ quan chuyên trách bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đây là tài liệu quan trọng nhằm đánh giá rủi ro phát sinh trong quá trình xử lý dữ liệu cá nhân và xác định các biện pháp bảo vệ phù hợp. Việc lập hồ sơ phải sử dụng đúng Mẫu số 10 ban hành kèm theo Nghị định 356/2025/NĐ-CP.

Quá trình xây dựng bộ tài liệu này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận chuyên môn (Pháp chế, IT, Nhân sự). Quá trình lập hồ sơ thường bao gồm các bước sau:

  1. Thống kê toàn bộ luồng thông tin thu thập từ khách hàng, đối tác và nhân viên nội bộ (Data Mapping).
  2. Sử dụng Mẫu số 10 để kê khai chi tiết mục đích, biện pháp bảo mật và quy trình lưu trữ.
  3. Đánh giá các rủi ro có thể phát sinh và đưa ra phương án xử lý sự cố khẩn cấp (Incident Response Plan).
  4. Hoàn thiện hồ sơ, ký đóng dấu và gửi cơ quan có thẩm quyền theo quy định.
  5. Cập nhật hồ sơ định kỳ 06 tháng/lần hoặc khi có thay đổi trọng yếu về nội dung đã kê khai.

hướng dẫn làm báo cáo đánh giá rủi ro theo điểm nổi bật của nghị định 356 về bảo vệ dữ liệu cá nhân

TƯ VẤN PHÁP LÝ CHUYÊN SÂU – LUẬT DPO

Tư vấn đầu tư nước ngoài FDI

Tuân Thủ Chuẩn Quốc Tế

Tư Vấn Đầu Tư Nước Ngoài (FDI) & Chuyển Dữ Liệu Xuyên Biên Giới

Hỗ trợ các tập đoàn đa quốc gia, nhà đầu tư FDI thiết lập quy trình tuân thủ pháp luật Việt Nam, lập hồ sơ đánh giá tác động chuyển dữ liệu ra nước ngoài (Mẫu số 09) an toàn, nhanh chóng.


Hotline Luật sư: 0976926655

XEM CHI TIẾT DỊCH VỤ

Điều kiện kinh doanh dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân

Tóm tắt chuyên môn: Kinh doanh dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Doanh nghiệp phải xin cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh (Mẫu số 04) từ Bộ Công an, đáp ứng nghiêm ngặt các tiêu chuẩn về nhân sự DPO và hạ tầng công nghệ.

Quy định này nhằm bảo đảm các tổ chức cung cấp dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân đáp ứng các yêu cầu về nhân sự, kỹ thuật, an toàn thông tin và năng lực quản lý trước khi cung cấp dịch vụ. Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật để được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh.

Tiêu chí cấp phép kinh doanh dịch vụ Yêu cầu chi tiết theo pháp luật (Nghị định 356/2025/NĐ-CP)
Điều kiện về nhân sự chuyên trách Có ít nhất 03 nhân sự trình độ cao đẳng trở lên, kinh nghiệm 02 năm về an ninh mạng, an ninh dữ liệu hoặc pháp chế.
Điều kiện về hạ tầng công nghệ Sở hữu hệ thống máy chủ, trang thiết bị và cơ sở vật chất đáp ứng tiêu chuẩn an toàn thông tin, an ninh mạng.
Điều kiện về thủ tục hành chính Phải nộp Đơn đề nghị theo Mẫu số 04 kèm theo Đề án kinh doanh chi tiết gửi Cục A05 – Bộ Công an.

Bảng tổng hợp trên cho thấy Nghị định 356/2025/NĐ-CP đã thiết lập các điều kiện cụ thể đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân. Doanh nghiệp chỉ được cung cấp dịch vụ khi đáp ứng đầy đủ các điều

Bài viết liên quan

Tác giả/Biên tập viên

Để lại bình luận

Luật sư điều hành Nguyễn Lê Kỳ
Luật sư Nguyễn Lê Kỳ

Luật sư điều hành

Thông tin đăng tải trên blog này chỉ nhằm mục đích phổ biến và là tài liệu pháp lý mang tính tham khảo, không được xem là ý kiến hoặc hoạt động tư vấn pháp lý đối với bất kỳ vụ việc cụ thể nào. Tác giả không chịu trách nhiệm đối với việc người đọc sử dụng thông tin khi chưa tham vấn trực tiếp luật sư.